Sự kiện diễn ra trong bối cảnh Luật Phòng bệnh vừa được Quốc hội thông qua, góp phần nhấn mạnh xu hướng chuyển đổi từ tư duy điều trị sang chủ động phòng bệnh, lấy dinh dưỡng là nền tảng quan trọng để nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Trong bối cảnh Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn chuyển đổi chiến lược từ chữa bệnh sang phòng bệnh theo Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, vai trò của dinh dưỡng ngày càng được nhìn nhận như một giải pháp nền tảng để giảm gánh nặng bệnh không lây nhiễm...

Khai mạc Hội thảo vai trò dinh dưỡng của đậu nành và các loại đậu.
Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đột quỵ, ung thư và đái tháo đường hiện chiếm khoảng 74% số ca tử vong trên toàn cầu. Tại Việt Nam, con số này lên tới khoảng 80%. Trong khi đó, nhiều yếu tố nguy cơ lại xuất phát từ chính chế độ ăn uống và lối sống hằng ngày như tiêu thụ quá nhiều muối, ăn thiếu rau quả và ít vận động.
Phát biểu khai mạc hội thảo, PGS.TS Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng, cho rằng Luật Phòng bệnh đã mở ra một giai đoạn mới, trong đó dinh dưỡng giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi đây là yếu tố có thể can thiệp sớm, tác động rộng và mang lại hiệu quả bền vững nhất đối với sức khỏe cộng đồng.

Viện Trưởng Viện Dinh dưỡng PGS.TS Trần Thanh Dương phát biểu khai mạc Hội thảo khoa học.
Tiếp nối nội dung này, GS.TS Lê Thị Hợp, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã dẫn dắt toàn bộ chuỗi tham luận bằng góc nhìn xuyên suốt từ khoa học dinh dưỡng đến nông nghiệp, công nghệ thực phẩm và ứng dụng vào chăm sóc sức khỏe.
Theo GS.TS Lê Thị Hợp, hội thảo không đơn thuần giới thiệu các kết quả nghiên cứu mới mà hướng đến mục tiêu kết nối những bằng chứng khoa học thành các khuyến nghị có thể ứng dụng trong đời sống. Trong bối cảnh bệnh tim mạch, đái tháo đường, béo phì và nhiều bệnh mạn tính ngày càng gia tăng, việc nhìn nhận đúng vai trò của dinh dưỡng, đặc biệt là thực phẩm có nguồn gốc thực vật, trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Bà nhấn mạnh, đậu nành và các loại hạt là nhóm thực phẩm giàu protein thực vật, chất béo không bão hòa, chất xơ, vitamin, khoáng chất cùng nhiều hợp chất sinh học có lợi. Đây là những thành phần giúp xây dựng khẩu phần ăn cân đối, hỗ trợ kiểm soát các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm và góp phần bảo vệ sức khỏe lâu dài.
Cũng theo Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam, giá trị lớn nhất của hội thảo là tạo nên diễn đàn quy tụ các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Chuỗi tham luận được thiết kế theo hành trình xuyên suốt, từ các nghiên cứu về cơ chế tác động của dưỡng chất đối với cơ thể người, đến câu chuyện chọn tạo giống, phát triển vùng nguyên liệu và công nghệ chế biến nhằm giữ trọn giá trị tự nhiên của thực phẩm.
"Bằng chứng khoa học chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành nhận thức và hành động trong cộng đồng", GS.TS Lê Thị Hợp nhấn mạnh.

Hội thảo thu hút rất nhiều chuyên gia từ các lĩnh vực dinh dưỡng tham dự.
Một trong những nội dung thu hút nhiều sự quan tâm tại hội thảo là các bằng chứng khoa học về chế độ ăn giàu thực vật trong phòng chống bệnh không lây nhiễm.
Qua tổng hợp từ nhiều nghiên cứu quốc tế được trình bày tại hội thảo, người duy trì khẩu phần rau quả khoảng 800 gram mỗi ngày có thể giảm từ 20-32% nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Những người tiêu thụ nhiều ngũ cốc nguyên hạt cũng có nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 thấp hơn khoảng 30% so với nhóm ăn ít.
Theo PGS.TS Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng, khoa học dinh dưỡng hiện đại không còn chỉ quan tâm đến việc ăn đủ chất mà chuyển sang đánh giá chất lượng thực phẩm, tác động lâu dài đối với sức khỏe và tính bền vững của hệ thống thực phẩm.

Phó Viện Trưởng PGS Trương Tuyết Mai chia sẻ bài tham luận tổng quan khoa học về thực phẩm nguồn gốc thực vật trong cân bằng dinh dưỡng.
Một chế độ ăn cân đối với tỷ lệ hợp lý các thực phẩm nguồn gốc thực vật không chỉ giúp kiểm soát rối loạn lipid máu hay đường huyết mà còn cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột - yếu tố ngày càng được xem là trung tâm của nhiều quá trình chuyển hóa trong cơ thể.
TS.BS Nguyễn Song Tú (Viện Dinh dưỡng) thì cho rằng, đậu nành là một trong số rất ít nguồn protein thực vật hoàn chỉnh với chỉ số PDCAAS đạt 1,0, tương đương protein động vật. Bên cạnh đó, đậu nành còn chứa isoflavone, lecithin, chất xơ cùng nhiều acid béo chưa bão hòa có lợi cho tim mạch.
Những bằng chứng quốc tế cũng cho thấy việc bổ sung khoảng 30 gram các loại hạt mỗi ngày trong chế độ ăn Địa Trung Hải giúp giảm gần 30% nguy cơ biến cố tim mạch và giảm tới 46% nguy cơ đột quỵ.
Ở góc độ nông nghiệp, GS.TSKH Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam, gọi đậu nành là "vàng mọc trên đất". Ông khẳng định đây không chỉ là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao mà còn có khả năng cố định đạm sinh học, góp phần cải tạo đất, giảm lượng phân bón hóa học và hướng tới nền nông nghiệp phát triển bền vững.

Các chuyên gia tham luận tại chương trình.
Điểm nhấn khác của hội thảo là các nghiên cứu mới về prebiotic tự nhiên trong đậu nành và yến mạch. PGS.TS Đặng Minh Nhật (Đại học Bách khoa Đà Nẵng) chia sẻ, hệ vi sinh vật đường ruột hiện được xem như một "cơ quan chức năng đặc biệt" của cơ thể. Giá trị của thực phẩm ngày nay không chỉ được đánh giá qua thành phần dinh dưỡng mà còn qua khả năng tác động tích cực đến hệ sinh thái vi sinh vật này.
Nghiên cứu thực nghiệm trên sản phẩm sữa đậu nành và yến mạch cho thấy các mẫu đều có chỉ số hoạt tính prebiotic dương tính cao, giúp nuôi dưỡng lợi khuẩn Lactobacillus và Bifidobacterium, đồng thời ức chế vi khuẩn có hại. Quá trình lên men còn tạo ra các acid béo chuỗi ngắn - nhóm hợp chất có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ niêm mạc ruột, điều hòa miễn dịch và hỗ trợ chuyển hóa.
Theo các chuyên gia, kết quả này cho thấy công nghệ chế biến hiện đại không chỉ hướng tới tạo ra sản phẩm tiện lợi mà còn phải bảo toàn tối đa các hoạt chất sinh học tự nhiên của nguyên liệu.

Ban Tổ chức tặng hoa các diễn giả và chuyên gia tham dự chương trình.
Ở góc độ nghiên cứu ứng dụng, TS. Lê Hoàng Duy (VSAC) cho biết chuỗi giá trị dinh dưỡng cần được nhìn nhận từ bảo tồn nguồn gen, chọn tạo giống đến công nghệ chế biến nhằm giữ nguyên protein thực vật, chất béo không bão hòa, chất xơ, isoflavone và các hợp chất prebiotic tự nhiên.












